Trang thông tin tổng hợp công an Khánh Hòa

: :
CÔNG AN NHÂN DÂN VÌ NƯỚC QUÊN THÂN, VÌ DÂN PHỤC VỤ

Tiếng hát đáy sông

Trước chị là đào hát, cũng có chút tiếng tăm xứ này. Tuồng nào do chị sắm vai cũng đắt khán giả nô nức về coi đông lắm. Vui chứ em, đời nghệ sỹ mà, còn gì hạnh phúc hơn khi được người ta chào đón, tung hô, rồi khóc thương, vui sướng, đồng cảm cho vai diễn của mình. Nhưng buồn là buồn lúc xả vai, sau tấm màn nhung đóng tiểu thư khuê các, vương tước công hầu là đời lênh đênh nổi trôi theo người mẹ nghèo là bầu sô gánh hát.

Tôi dụi mắt nhìn chiếc tam bản nhỏ hệt như từ trong mênh mông biển nước đang trồi dần lên. Trên ghe không một bóng người. Gió đẩy sóng xô vào mạn ghe ì oạp. Chiếc ghe dập dềnh, lắc lư trôi theo con nước xuôi về bến cầu. Khi hai boong ghe lướt qua nhau, một làn gió ngược luồng ngậm đầy hơi sương thổi rít qua làn da ngăm giấu trong lớp áo mỏng manh khiến tôi rùng mình.

Phía đó nắng đã tắt. Tà dương dần nuốt chửng những thân cò già mỏi mệt, đang chậm nhịp bay về bên lũ con nheo nhóc đói sau một ngày dài vất vả rong ruổi vẫn không kiếm chác nổi một bữa ăn cho ra hồn. Những vệt sáng màu đỏ cuối cùng lan tràn trên mặt sông, chúng nhảy múa, đuổi bắt nhau chạy riết về phía chân trời, sau cùng thì chìm lặng nơi xa nhất của tầm nhìn, mất hẳn.

Trong khoang, em Hưởng lọ mọ bật đèn. Chiếc bình ắc quy đã cạn khiến bóng đèn nhấp nháy, rồi phựt tắt ngấm. Ghe trờ tới bến cầu. Tôi một tay đỡ chiếc cọc cừ còn nổi đầu lên mặt sông, tay kia từ từ luồn dây thừng cột ghe vào xác cây gừa khô trụi lá, ai đó cưa mất ngọn, để lại hình thù trơ trọi ngày ngày nhìn biển nước dưới bến.

Chống chiếc sào bên lườn ngoài, tránh ghe dạt xa bờ va phải tàu lớn vãng lai, tôi cúi thấp người chui vào khoang. Dò dẫm trong bóng tối, tôi lôi từ đáy hầm một chiếc đèn dầu cỡ nhỏ có ống khói, bật diêm mồi. Hàng hóa lỉnh kỉnh bắt đầu hiện ra dưới ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn cũ kỹ.

Em Hưởng gác láp máy, sà vào dọn cơm. Cơm nguội ngắt. Chúng tôi nuốt lấy lệ với ít cá chiên, canh cải từ bữa trưa dư lại. Tôi buông đũa trước, ra đầu boong cộng sổ. Em Hưởng húp xong chén canh lạt thì tự dọn dẹp rồi theo đường mui lên bờ xem tivi. Còn lại một mình, tôi chong mắt, ngao ngán. Cả ngày cập không mấy bến, đời ghe coi bộ hết thời.

*

“Dẫu có như mò kim đáy biển, bây cũng gắng thay cha tìm cho gặp một người”.

Lẫn trong tiếng anh ách tức nước của ghe nặng, sóng xô bờ, tôi nghe như có tiếng cha tôi, cùng với lời dặn dò trước ngày ghe hàng chị em tôi rời bến.

Nên dẫu ngày dài ế ẩm, ghe tôi vẫn gắng neo sông là để nghe ngóng tin tức về một người đàn bà, là “Người vợ không bao giờ cưới” của bác Tư Thành.

Tôi mở ngăn kéo, cầm tập giấy bọc lụa, bần thần. Như thực như mơ, đâu đây phảng phất tiếng thở dài của một người đàn ông. Ông chép miệng, “Sự gì cũng có nguồn cơn”, rồi bắt đầu kể, khi khản đặc, lúc trầm trầm.

…Thời trai trẻ, bác Tư bây lang bạt kỳ hồ. Đó là những ngày vui. Nhưng nỗi vui riêng của ảnh giống như con cừu đen giữa bầy cừu, lạc loài trước sự kỳ vọng.

Ảnh mê viết tuồng nhưng vì mưu sinh phải hành nghề cắt tóc dạo. Thấy vậy ông trời gieo duyên cho ảnh gặp người thương. Đận ấy có đoàn Sơn Nữ Phà Ca của cô Năm Quỳ đâu trên Mỏ Cày xuôi về Đại Ngãi, dựng sân khấu hát tuồng Thoại Khanh. Ảnh gác chèo lên mua vé xem, đâu hay phải lòng đào. Ảnh nói thấy nàng róc thịt nuôi mẹ chồng, móc mắt cho ác thần để đổi mạng cho người chẳng phải thân sinh mà cảm động cái đức của đứa con dâu có lòng hiếu kính cha mẹ, cái nghĩa của người vợ son sắt, một lòng.

Sau đêm vãn tuồng ảnh tò tò theo xin hớt tóc miễn phí cho người ta cũng vì mê nghệ sỹ một đỗi. Mấy lần vừa đứng hớt tóc, ảnh vừa ngâm nga mấy câu tự sáng tác cho kép nghe chơi, góp ý, vậy mà được đào chánh để ý anh thợ nhiều tài. Ảnh tưởng đời thế là viên mãn. Có dè đâu…

Ngày ảnh rời ghe về nhà xin gia đình cho cưới vợ thì trùng hợp là sáu mâm sính lễ cũng vừa được chuẩn bị xong, nhưng không phải ngược lên miệt đoàn hát dựng lều mà thẳng qua nhà Năm Thoại. Bà nội bây đòi chết đòi sống, buộc ảnh cưới con gái người ơn đã cứu tử ông nội bây ngày trước nơi sa trường. Bác Tư bây hồi nào cảm động cô đào bởi điều gì thì hồi này cũng vì sự ấy mà phản bội người ta, cho đẹp lòng bà nội bây tuổi xế chiều.




Minh họa: Ngô Xuân Khôi

Cưới thì cưới vậy chớ lòng ảnh đâu có ở đây. Hơn hai chục năm, cứ cách ngày là ảnh bật tuồng Sơn Nữ Phà Ca ra nghe hoài. Nghe riết tới thằng út Khánh con ảnh cũng thuộc làu. Mỗi lần tới đoạn đám cưới Kiều Mộng Long, nghe nữ chính ngâm dài câu thơ “Ngày mai đám cưới người ta/Mà sao sơn nữ Phà Ca lại buồn” là nó nẫu ruột, chạy qua nhà mình lục cơm nguội.

Chừng qua nhà xem, nước mắt nước mũi ảnh chảy ròng ròng. Ảnh đổ cho ông Quy Sắc là thầy dạy Quốc Văn, nên dù thảo nhạc Kiên Giang soạn thì tuồng vẫn mùi mẫn, ăn nhập vào hồn nên xúc động. Có ảnh dối lòng dối dạ, chứ trên dưới trong nhà có ai không biết ảnh nhớ người xưa. Nhưng bà nội bây trước phút lâm chung đã bắt ảnh thề độc rằng, cả đời cả kiếp không bao giờ được tìm gặp người con gái ấy nữa.

Cha có khuyên ảnh, chứ năm dài tháng rộng, sỏi đá còn mòn, hà cớ lòng người u uẩn mãi mối sầu riêng, được gì mà khổ. Tuồng xưa đã vãn, người giờ đã xa, phải ráng vì sấp nhỏ sống tiếp. Ảnh nghe cũng xuôi, ừ hử, rồi mèo lại hoàn mèo. Cứ nghe ở đâu có đoàn hát, là ảnh cõng con Đài, thằng Khánh đi xem. Nhưng có ai là người năm cũ nữa đâu mà mong.

Cô đào không biết đã đi đằng nào biền biệt. Người kể chỉ bị nước cuốn. Kẻ hô chỉ thay lòng, ưng kép Hữu Tài, hai người ăn nằm, gá nghĩa rồi dắt nhau về xứ dừa, từ đó bặt tăm. Ảnh cũng nghe ngóng tứ phương, dù chỉ để biết chừng vậy. Nhưng số người biết về cô đào quá ít mà theo năm dài tháng rộng, tuổi tên người nghệ sỹ cũng chỉ còn vang vọng trên làn điệu đã xa. Có ai biết nghệ sỹ là ai sau lớp phấn son trên sân khấu lúc huy hoàng. Vậy là tăm cá bóng chim, một bước đi xa, nghìn trùng tiễn biệt.

Cả đời thất vọng, ảnh tìm đến hơi men. Có bữa ngà ngà say, ảnh quát bác gái bây không bỏ mùng để muỗi cắn con Đài. Rồi hổng ngủ trên nhà, ảnh ra chòi dưới mé sông, đu đưa võng hát nghêu ngao. Hát mệt thì ngoẹo đầu, thiêm thiếp ngủ. Bác Tư gái bây nước mắt lưng tròng ra giăng mùng, rồi dìu ảnh lên chõng, không ta thán nửa lời. Ảnh vừa ngã lưng xuống chiếu thì mơ mộng chiêm bao, nắm lấy tay vợ khóc mướt. Nhưng ác nhơn là trong cơn mê, ảnh gọi: “Phà Ca, anh xin lỗi mình”.

Phà Ca đâu phải tên bác gái bây.

Bác gái bây uất quá, mới phạt tay xô ngã cái đèn dầu vô vách, lửa giận định mồi diêm đốt cháy quách hết cho rồi, hờ đâu dầu cạn khô, chỉ có miểng chai làm tay chỉ chảy máu…

*

“Cho chị chia ít dầu trắng, cô Hường!”.

Tôi giật mình. Người đàn bà thập thò ở mũi ghe. Đèn trong khoang không đủ soi tỏ gương mặt chị. Nhưng qua chất giọng dịu mềm, trong trẻo và có âm sắc như tiếng nhạc rất hiếm thấy, tôi nhận ra người hôm nọ chỉ đường cho ghe tôi vào bến sông.

Chị đi tam bản nhỏ, bán vài món cóc keng như kẹo bánh, siro đá bào. Mấy hôm liền, chiều nào ghe tôi về neo lại bến này, chị cũng sang hỏi mua, bữa góc tư thuốc, bữa ít giấy vấn, hôm qua thì gói trà Long Phụng. Chị bảo mua cho anh nhà. Để ảnh về bất tử thì có xài.

“Chị vào khoang kẻo lạnh, sương đêm nay xuống nhiều!”.

Bước chân nhẹ tênh, chị khom dáng người mỏng manh như sợi lạt rồi ngồi xuống cạnh tôi. “May quá, tìm mãi mới gặp ghe dùng đèn này, dầu bên chị khô kiệt. Giờ mất điện người ta toàn thắp nến, bởi không hàng nào bán dầu trắng, cho nhờ”. Tôi rót ít dầu vào lọ, đưa sang người đàn bà. Mắt chị nheo vui. “Bao nhiêu tiền, chị gửi?”. Tôi xua tay. “Dầu thắp đèn nhà, còn ít, chị cứ cầm về dùng. Dưới em nhiều chỗ bán, chừng về em lại mua”.

Chị trông có nét từng trải nhưng khó đoán biết được tuổi thật, rối rít cảm ơn. Hai tay thon búp như ngòi viết rất đẹp chìa ra đón lấy lọ dầu. “Trước chị cũng xài đèn cầy cho tiện, mà lỡ một hôm quá gió, sơ ý để lửa phạt vào lườn ghe, bắt lá chằm đốp cháy một khoảnh mui tàn. Chị sợ quá mới mày mò làm cái đèn chong cóc có ống khói để thắp cho ấm khoang, canh chừng đến khi ngủ thì vặn tắt”.

“Trời, nguy hiểm quá. Đêm trên sông chị ở thầm vẫn được. Khoang bên chị chằm lá lại không cửa, gió máy bất thình lình. Như bên ghe em, kín khuất vậy chứ thắp qua cơm chiều là em thổi. May là chị không gì, phật trời phù hộ, chứ sông sâu sóng cả lỡ có chuyện thì…”. Người đàn bà trầm ngâm. “Chị thắp đèn đây để đợi một người. Ảnh đi chập này hơi lâu, biết có còn quay lại. Nhưng trước khi ảnh về chị có hẹn, chưa tới mười giờ đêm, ghe luôn sáng đèn chờ. Vậy là chị chờ, biết đâu…”.

Mắt người đàn bà rũ xuống, trũng sâu. Tôi nghe tiếng thút thít trong vắng lặng đêm thâu như lời nỉ non, cũng dường là oán trách. Theo phản xạ, tay tôi nắm lấy tay chị. Bàn tay chị mềm mại nhưng… lạnh quá. Chị rụt lại, hờ như cũng ngại ngần.

Gặp chị sang mua hàng đêm đã mấy lần, đời ghe nổi trôi mà chung một bến neo, âu cũng là duyên hạnh ngộ. Tôi vặn tim đèn thấp xuống khi lửa lớn làm đen miệng ống khói, bóng sáng bị che mờ.

“Chị chu đáo vậy, lẽ nào người lại không về? Mà ảnh đi làm ăn xa hay đâu mà chị phải đợi. Mà em nghe in như chị không phải người miệt này. Giọng chị đẹp lắm, thanh thoát, mượt mà như nghệ sỹ. Cùng là phụ nữ, bèo nước gặp nhau, nếu cần người lắng nghe, chị cứ giãi bày một đỗi biết đâu dễ chịu hơn phần nào”.

Người đàn bà cất chân đổi bên vì mỏi, bỏ lọ dầu xuống cạnh, hai tay đặt lên nhau đằm thắm, như sắp kể một câu chuyện dài. “Chị em mình kể cũng hữu duyên, em ạ. Để chị kể em nghe, đời của kẻ đã sống hàng trăm phận đời”.

*

Trước chị là đào hát, cũng có chút tiếng tăm xứ này. Tuồng nào do chị sắm vai cũng đắt khán giả nô nức về coi đông lắm. Vui chứ em, đời nghệ sỹ mà, còn gì hạnh phúc hơn khi được người ta chào đón, tung hô, rồi khóc thương, vui sướng, đồng cảm cho vai diễn của mình. Nhưng buồn là buồn lúc xả vai, sau tấm màn nhung đóng tiểu thư khuê các, vương tước công hầu là đời lênh đênh nổi trôi theo người mẹ nghèo là bầu sô gánh hát.

Chị đi hát sớm. Trời cho chất giọng thanh thoát, mùi mẫn nên được người yêu kẻ quý. Rồi chị gặp ảnh, tài mạo mà chân phương, vạn nhất là cùng chung lý tưởng cổ xúy âm nhạc cổ truyền. Ảnh có nghề viết tuồng, mà mỗi lời ảnh viết ra, chị là đào chánh đã hát qua trăm bản nghìn tuồng, vẫn tràn trề xúc động.

Ảnh nói ông nội ảnh nhà nho, từ nhỏ được học lễ, nên viết tuồng nào ảnh cũng gửi gắm bao điều tốt đẹp đã được hun đúc qua lịch sử mấy trăm năm mở cõi đất này. Âm nhạc là gì nếu không phải là sợi dây giáo dục, hàm dưỡng nội tâm, nuôi lớn lòng trắc ẩn, nỗi thương người, sự quý trọng cuộc sống và hướng người ta đến cái chân – thiện – mỹ. Ảnh biểu, người xưa có câu “Hứng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc(1)” là vì vậy.

Ấy rồi chị mê mẩn trước những lời như khuôn vàng thước ngọc. Chị không còn biết gì hơn, ngoài tình yêu cuồng si và ước vọng lớn lao được xây dựng gia đình cùng ảnh. Nhưng cuộc đời mà em, ai biết đâu ngờ…

Quê gốc chị tận trên Mỏ Cày. Mười một tuổi ba má ly hôn. Ai không đau cảnh gia đình sẻ bảy chia năm, kẻ lênh đênh ngược xuôi với ghe gánh hát tuồng, người đi thêm bước nữa. Nhưng tuổi thơ buồn một, tuổi dựng vợ gả chồng chị buồn tới mười. Bà nội của con chị cũng mê cải lương nhưng không tha thiết dâu đào vì ngờ họ lả lơi bay bướm. Thêm cái quan niệm “nhà dột từ nóc” đã trở thành định kiến khắt khe, chia cắt chị và ảnh trọn đời.

Sau ngày ảnh rời đoàn, tai ương bắt đầu ập xuống luôn. Gánh của má chị đận đó ngược lên Trà Ôn, đường xa ai cũng mệt nhoài. Không biết hồi nào mà gió xô ngã cái đèn trên mui, lửa bắt mớ cờ phướn và quần áo hóa trang, cháy lớn, ghe chìm sâu đáy nước.

Chị vì nán lại chờ người mà chuyến đó thoát chết. Má chị thì nằm lại nơi xứ người. Đoàn từ đó rã tan. Chị lênh đênh trên chiếc tam bản bán vài thứ lặt vặt, mong ngóng một lần người về. Chị sợ người ta bắt con, nên vừa gần vừa xa, không để gia đình ảnh thấy mặt. Là nghệ sỹ đâu phải ai cũng trăng hoa, chẳng qua là cái nhạy cảm của họ hơn người. Chứ như chị từ hồi biết yêu, chỉ yêu một người, chỉ đợi một người, đến chết cũng vậy.

Im lặng.

Tôi nghe sóng mắt mình cay xè. Cả đời người đàn bà chỉ có một tình yêu. Tôi bỗng nhớ đến bác Tư Thành tôi, dù vợ con đề huề, thì mãi đến lúc lìa đời, vẫn chỉ nhớ thương một bóng hình duy nhất. Dẫu sương gió thời gian, cũng đã mấy chục năm rồi…

*

Tôi quờ tay rút mảnh khăn giấy hộp, vô tình làm rơi tập giấy bọc lụa có bút tích của bác Tư Thành.

Người đàn bà nhặt tập giấy lên. Chị cẩn trọng lật mở từng trang, xúc động rưng rưng, cũng giống như tôi, mỗi lần xem lại đều không thể nào cầm được nước mắt.

Trong đó là những vở tuồng mà bác Tư tôi sinh thời đã viết, cũng là tiếng lòng gửi đến người xưa.

Rồi như ai xui để tôi kể lại câu chuyện mà cha đã kể sau ngày bác Tư đi xa. Chuyến đi cuối cùng với hy vọng được đợi chờ người đàn bà mà bác một đời nhớ thương nhưng lại không có can đảm cưới về, ở bên kia thế giới.

“Thương lắm chị ơi, phút lâm chung, bác nắm chặt tay cha em, mà rằng: “Má biểu anh thề không gặp lại Phà Ca ở dương gian, thì thôi để anh chờ cổ nơi âm tào địa hạt”. Giọt nước đau khổ lăn xuống từ khóe mắt người đàn ông đang dần đóng khép ấy, em nhớ mãi, khi bác đã kịp trối trăn, phó thác ước nguyện cuối cùng”.

“Tâm nguyện cuối cùng của bác là trao tận tay di vật này cho Phà Ca. Trong đó là tất cả nỗi niềm của người đàn ông khổ đau, mà ngoài âm nhạc ra, đôi ba câu kể, giãi bày sao cho hết đoạn trường”.

*

Đêm tháng mười dài dằng dặc, bầu trời không mọc được mấy vì sao xa. Gió thổi ghe lắc lư xô chúng tôi lại gần nhau thêm nữa. Vài mảnh âm thanh rỉ rả phát từ chiếc radio cũ của dân ghe không còn. Những ánh đèn leo lét dần thưa. Ngoài kia, tiếng con vạc lẻ bạn kêu sương. Thảng hoặc, ai ngâm nga bài Dạ cổ hoài lang nghe u trầm, thê thiết.

Chị bỏ chân ra mũi ghe, từ giã ra về. Tôi tiễn chị lên cầu. Chị cản, chỉ tay về phía lau sậy, bảo “ghe chị ngay đấy thôi, xa xôi gì mà tiễn”. Tôi nhoẻn cười. “Dạ chị về. Có thiếu dầu cứ qua ghe em mà lấy, đừng ngại”. Chị gật gù. Trước khi quay đi, chị dúi vào tay tôi hai chiếc vé coi tuồng. Tôi nhìn xuống, chỉ thấy trong nhá nhem mây sáng một màu trăng trắng.

“Tối mai bến chợ có gánh hát về, vui lắm. Chị quen với đoàn, được cho mấy vé, cô với cậu Hưởng neo ghe lên xem cho đỡ buồn”. “Lạ chưa. Thời nay vẫn còn gánh hát sao chị?”. “Còn em ạ. Có những thứ vẫn âm thầm tồn tại. Là do mình có để tâm đến hay không. Xóm chợ này đô thị hóa chưa xong, ghe tàu còn thịnh, bà con mình cũng còn cái chất phác hồn nhiên nên dăm ba gánh địa phương vẫn chưa giải thể, còn neo bờ. Thì ban đêm ca hát, ban ngày lo cày cấy, chứ sống bằng nghề dễ gì đủ, em nghen. Mai chị cũng xuôi xuống luôn, còn duyên chị em chắc còn gặp lại”.

Nói rồi người đàn bà quay đi, nhịp bước lẹ làng. Dáng người chị mảnh khảnh thoảng qua như cánh gió, chìm vào đêm cuối mùa trăng, đen loãng, nhưng cách một lườn ghe đã chẳng nhìn thấy gì nữa.

Tôi trở lại khoang, khép cửa, cài then. Em Hưởng về tự lúc nào, đã ngủ say, hơi thở phì phò. Tôi nằm trở đầu, chưa thể chợp mắt. Tiếng gió u u rít qua lau lách đìu hiu. Vũ khúc côn trùng khi bổng khi trầm ngân trong đám cỏ rậm ven bờ. Vài con vạc đập cánh sà xuống mặt nước quắp chú cá con mơ ngủ nổi lềnh bềnh, vô định. Sương xuống càng lúc càng nặng. Hơi lạnh miên man thấm qua lớp nhựa trên mui, xâm lấn từng vạc gỗ dày đinh, treo lủng lẳng hàng.

Tôi bung mền đắp cho hai chị em. Trong khoang tối om, phải em Hưởng đã thổi tắt ngọn đèn? Tôi không để ý. Cũng không nhớ từ bao giờ đèn tắt. Chỉ biết tin đoàn hát về như một hạt mầm bắt đầu mọc rễ trong đầu tôi, rất nhanh, một cái cây đầy ký ức về sân khấu cải lương lưu động đâm chồi, làm sống lại khoảng trời ấu thơ của những đứa trẻ thôn quê, được ngồi trên vai cha đi xem hát.

*

Từ sáng sớm, người rao bảng đã phát loa giới thiệu tin tuồng dọc theo triền sông. Đám con nít đổ ra mé nước mọc đầy những cây bo bo nghe ngóng. Lá bo bo sắc, cứa vào làn da ngăm rướm máu, nhưng chúng vẫn nhảy nhót hân hoan, phấn khích vô cùng. Vài đứa tếu táo chạy vào nhà trong, khoe với cụ bà “nội ơi, tối nay gánh hát về, có nghệ sỹ X, nghệ sỹ Y, vui quá”.

Trên đê đồng, mọi người đứng lặng im nghe, anh con trai nôn nao ý muốn rủ cô tóc bím mới quen đi coi chung mà sợ cổ từ chối. Người đứng tuổi thì gấp rút làm cho xong việc, để về sớm nấu cơm ăn cho kịp đến trước khi sân khấu mở màn.

Tôi và em Hưởng cũng ăn cơm sớm hơn ngày thường, tranh thủ về bến chợ trước khi ghe tàu ken nghẹt.

Chiều dần buông. Những ghe chở cát khẳm đé trông xa như những cụ rùa ngóc đầu ngúc ngắc trên mặt nước sóng sánh. Em Hưởng thắc mắc hỏi cát đâu mà nhiều. Người ta tém vét đi buôn xa, của công bồi lắng trăm năm chỉ còn là mênh mông nước lấn.

Ghe tôi cập bến chợ. Mới sáu giờ chiều mà xuồng ghe đã giăng kín mép bờ. Trong bóng tối nhá nhem tôi nhận ra người đàn bà đang vẫy tay đón. Sáng này khi trở dậy, bên bờ lau sậy bóng chiếc tam bản đã xa xăm. Vậy mà vừa cập bến thôi, chị đã sẵn chờ.

Tôi cột dây ghe, bước lên bờ. Người đàn bà rõ ràng đang lộ vẻ mừng vui vì chẳng ngờ ghe hàng tôi nương theo hai chiếc vé xem tuồng mà về bến chợ. “Chị ngóng mãi, sợ mấy em hổng tin bữa nay gánh hát còn”.

Dưới bến có một ghe bầu. Chị bảo đó là ghe của đoàn hát, họ đã dựng xong sân khấu trong chợ. Đêm nay hát vở Má hồng phận bạc, xúc động nhất là phân đoạn Thúc Ông đánh đòn dạy dỗ Thúc Sinh. Rồi chị giục tôi nhanh, khi tiếng chân chạy bắt đầu huỳnh huỵch. Vài cô con gái õng ẹo bị bỏ lại, cố gắng che mặt để chen lấn giữa đám đông.

Càng đi sâu vào chợ càng nghe rõ tiếng người lao xao, tiếng trống nhạc xập xình, tiếng người dẫn chương trình hoạt ngôn trên sân khấu ngập ánh sáng đèn đuốc.

Hai bên cổng rạp là hai tấm băng rôn lớn có in hình và tên nghệ sỹ. Tôi dụi mắt. Chắc ngày gặp vì đêm mơ. Em Hưởng lẩm nhẩm “Gánh Sơn Nữ Phà Ca. Đào chánh Phà Ca vào vai Thúy Kiều”.

Tôi tiếp tục bước vào trong. Càng đến gần sân khấu, mọi thứ càng trở nên quen thuộc.

Tôi nôn nao khác lạ, hệt như mình đang được sống lại tuổi thơ ngây. Trên sân khấu, nàng Kiều mà từ nãy giờ tôi có cảm giác rất quen, đã khoác áo nâu sòng, cùng khách dương trần giã biệt.

Tuồng vãn đúng cảnh buồn quá. Dòng người ra về ồn ào hơn cả lúc đến xem. Người chửi mắng Hoạn Thư, kẻ xót phận Thúy Kiều. Trẻ con ngủ gật trên vai người lớn. Người lớn trầm ngâm bước đi. Cụ già thở dài, cái gì hay cũng tím ruột.

Tôi vẫn đứng đấy xem người ta cuốn rạp. Những tấm vải che cuối cùng cũng đã được dọn đi. Cô đào chánh bước cạnh một người đàn ông, đi về phía nào. Họ sụt sùi, thút thít. “Em đã đợi anh ngót hai mươi mấy năm”. Người đàn ông nọ không nói, nhưng bàn tay nắm chặt bàn tay, như thể không bao giờ họ để xa nhau nữa.

Khi hai bóng trắng lướt qua, tôi nhận ra dáng hình thật rất thân thuộc, ngày nay đã tới cõi vĩnh hằng. Tôi nhịp bước theo. Khi đến bờ sông thì chiếc ghe bầu của đoàn hát cũng đã nhổ neo, chỉ còn mỗi ghe tôi dưới bến.

Tôi và em Hưởng cố đuổi tới đoàn hát để xem có phải người đàn ông rất giống bác Tư Thành. Nhưng tôi càng đuổi, chiếc ghe bầu càng xa. Đến đoạn vắng thì ghe đột nhiên bốc cháy. Tiếng người lao nhao bừng dậy, thất thanh. Tiếng quẫy đạp chân bơi tìm bờ của những đứa con miền sông nước. Ghe dần chìm rồi mất hút. Tôi hét khan cả giọng vẫn không thể kịp tới, cũng không thấy kẻ cứu nạn nào. Chiếc tam bản chống chịu giữa dòng, bụng uống đầy nước, mỏi mệt, rồi như buông xuôi. Sông nước mênh mông đã nuốt chửng nó vào lòng phù sa đỏ nặng.

*

Tôi tỉnh dậy trong bóng tối, đầu biêng biêng đau. Em Hưởng đưa tay sờ lên trán tôi. “Thật may, chị hạ sốt rồi”. “Ở đây là đâu?”. Giọng một người đàn ông trầm trầm, được nhận ra bằng điếu thuốc đang cháy. “Nhà một người thả lưới. Cô em sốt nhẹ thôi, mà mê sảng từ chiều”.

Tôi bật người ngồi dậy, nhìn ra ngoài. Trước nhà là bến sông. Trời tối đen. Nhưng tôi nghe tiếng sóng xô óc ách. Thì ra đêm chưa tàn. Em Hưởng sợ gió lạnh về, khép cửa. “Gánh hát đâu? Chiếc ghe bầu cháy rồi!”. “Gánh hát nào?”. “Gánh Sơn Nữ Phà Ca. Tối qua họ về hát trong chợ kìa, vở Má hồng phận bạc, Phà Ca vào vai Thúy Kiều cặp với kép Hữu Tài đóng Thúc Sinh”. “Tôi là kép Hữu Tài”. Vẫn là người thả lưới ban nãy. Ông dụi tắt điếu thuốc. Nhà mất điện nên tối om. Ông thắp một ngọn đèn tỏ mờ.

Bên trong nhà, ngoài ba người chúng tôi, còn có một ngôi mộ đá. Gương mặt chị sáng ngời trên bia mộ, đang mỉm cười. Tôi lặng người đi.

“Vở Má hồng phận bạc là vở diễn cuối cùng của đoàn Sơn Nữ Phà Ca, cách nay gần ba mươi năm. Phà Ca mà cô cậu đang tìm, ba năm sau đó cũng tan người trong cơn bão nhiệt đới trăm năm mới có một. Mộ này chỉ là mộ gió, chứ cổ với đứa con trai, dù chết, hương hồn lẩn khuất cũng chẳng thèm ở cùng lão già bất tài này. Đêm trước cổ báo mộng, để tôi đón cô cậu vào đây. Chứ cổ đi rồi cô ơi, họ đã nắm tay nhau đến nơi đau thương không còn chạm tới được nữa rồi”.

Người đàn ông nhắm chặt mắt, ép giọt nước buồn thương chảy xuống. Tôi quỳ bên ngôi mộ, thắp một nén hương tâm tưởng cho đời hồng nhan vô phước, bạc phần.

Em Hưởng trịnh trọng dâng lên tập giấy đã nhuốm màu. Coi như lời ký thác sau cùng của bác Tư Thành, nhờ cha tôi trao di vật này cho người xưa, cũng đã hoàn thành. Dù Phà Ca chỉ còn là khói sương ảo ảnh.

Dưới ánh đèn phập phồng, ngôi mộ lại tỏa ra ánh sáng của buổi chiều dần tàn. Chị đứng cạnh bác Tư Thành tôi trên chiếc tam bản đang xuôi dần về bóng tối. Chị vẫy tay chào tạm biệt, bác Tư tôi cũng nở nụ cười mãn nguyện, nụ cười mà từ khi được sinh ra, tôi chưa từng được thấy bao giờ.

Trong khung cảnh ma mị huyền hoặc, chiếc ghe ngúc ngắc rồi chìm vào mênh mông. Từ đáy nước vọng lên giọng nói lanh lảnh của một người đàn bà.

“Nát giỏ hãy còn bờ tre. Nhờ em cất kỹ tập giấy là di sản truyền đời”.

Rồi chị hát ngâm, câu hát trong tuồng bác Tư tôi viết.

“Còn trời, còn đất, còn người.

Thì còn tiếng hát như lời nước non.”

Tôi nhìn từng trang giấy sẫm màu phấp phới bay. Ngoài kia lặng gió. Nhà người thả lưới, cửa đóng, then cài.

Hoàng Dương, 16/12/20

----------

(1) Hứng khởi ở điều thiện là nhờ ở thi ca, đứng vững trước mọi thiện ác là nhờ ở lễ và hàm dưỡng được nội tâm chính đáng trong chiều sâu cung cách làm người chính là nhờ ở sự hài hòa của âm nhạc – Lê Đình Bích giảng nghĩa.

Truyện ngắn của Hoàng Dương

Đối tượng truy nã

  • Nguyễn Tường Thịnh

    Năm sinh: 1988 , nơi đăng ký tạm trú:Tổ dân phố 14, Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa

  • Nguyễn Phạm Hoài Phát

    Năm sinh: 1996 , nơi đăng ký tạm trú: 68 Phạm Bội Châu, vạn thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa

  • Lâm Quốc Vũ

    Năm sinh:1980 , nơi đăng ký tạm trú: Lang thang

  • Nguyễn Xuân Tiến

    Năm sinh: 1990, nơi đăng ký tạm trú: Vạn Hữu, Ninh Quang, Ninh Hòa, Khánh Hòa

  • Nguyễn Hữu Tánh

    Năm sinh: 1962, nơi đăng ký tạm trú: Thôn 6, Hoà Tân, Krông Bông, Đắk Lắc

  • Phạm Anh Toàn

    Năm sinh: 1988, nơi đăng ký tạm trú: Không xác định

  • Phan Huy Thuyết

    Năm sinh: 1968, nơi đăng ký tạm trú: Tổ 67 Hoàng Văn Thụ, Hai Bà Trưng, Hà Nội

  • Phùng Văn Khang

    Năm sinh: 1990, nơi đăng ký tạm trú: Xóm Tả, Phú Sơn, Ba Vì, Hà Nội

  • Nguyễn Thị Loan

    Sinh năm 1991, nơi đăng ký tạm trú: Thông Làng Gạo, xã Xuân Quang, Bảo Thắng, Lào Cai

  • Lê Thanh Bắc

    Sinh năm 1977, nơi đăng ký tạm trú: TK7, TT Nông Trường Việt Trung, Bố Trạch, Quảng Bình

Thông báo

  • THÔNG BÁO Lịch tiếp công dân quý IV/2021

         1. Lịch tiếp công dân:
         - Tiếp công dân định kỳ: Giám đốc Công an tỉnh tiếp công dân định kỳ vào ngày thứ ba của tuần thứ tư hàng tháng tại Thanh tra Công an tỉnh, cụ thể như sau:
         + Tháng 10: Ngày 26/10/2021
         + Tháng 11: Ngày 23/11/2021
         + Tháng 12: Ngày 21/12/2021
         Trường hợp Giám đốc Công an tỉnh bận công tác thì giao quyền cho Phó Giám đốc Công an tỉnh tiếp công dân theo quy định.
         - Tiếp công dân đột xuất: Giám đốc Công an tỉnh tiếp công dân đột xuất theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Tiếp Công dân năm 2013 và khoản 2 Điều 7 Thông tư số 30/2015/TT-BCA, cụ thể như sau:
         + Vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau;
         + Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nếu không chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng dẫn đến huỷ hoại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe công dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự;
         + Tiếp công dân theo yêu cầu của cấp trên.
         - Tiếp công dân thường xuyên: Thanh tra Công an tỉnh tổ chức tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo giờ hành chính vào các ngày làm việc trong tuần. Trường hợp cần thiết hoặc khi Giám đốc Công an tỉnh giao, Chánh Thanh tra Công an tỉnh phải trực tiếp tiếp công dân.
         2. Thời gian và địa điểm
         - Buổi sáng: Từ 07 giờ 30 phút đến 11 giờ 00 phút;
         - Buổi chiều: Từ 13 giờ 30 phút đến 16 giờ 00 phút.
        - Địa điểm: Thanh tra Công an tỉnh Khánh Hòa – Số 80 Trần Phú, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

  • Thông báo tuyển sinh công dân tốt nghiệp đại học ngành ngoài để đào tạo trình độ đại học tại các Trường CAND năm 2021

           1. Đối tượng, tiêu chuẩn
           Công dân có hộ khẩu thường trú tại Khánh Hòa, đã tốt nghiệp trình độ đại học hệ chính quy tập trung, từ loại khá trở lên, thuộc ngành và cơ sở đào tạo theo quy định của Trường; không quá 30 tuổi; đảm bảo tiêu chuẩn chính trị, sức khỏe theo quy định của Bộ Công an, trong đó nam cao từ 164cm đến 195cm, nữ cao từ 158cm đến 180cm (người dân tộc thiểu số: nam cao từ 162cm đến 195cm, nữ cao từ 156cm đến 180cm), nam nặng từ 47 kg trở lên, nữ nặng từ 45kg trở lên, nam và nữ có chỉ số BMI từ 18.5 đến 30, nếu mắt bị khúc xạ thì không quá 3 đi-ốp, kiểm tra thị lực qua kính mắt đạt 10/10, tổng thị lực 2 mắt đạt 19/20 (phải cam kết chữa đảm bảo tiêu chuẩn thị lực nếu trúng tuyển).
            2. Đăng ký sơ tuyển
    Người dự tuyển trực tiếp đến Công an các huyện, thị xã, thành phố nơi thường trú để đăng ký sơ tuyển. Thời hạn cuối tiếp nhận hồ sơ: 15/11/2021. Lệ phí đăng ký dự thi: 30.000đ/01 hồ sơ; Lệ phí khám sức khỏe: 100.000đ/người (không bao gồm phí làm xét nghiệm).
           3. Phương thức tuyển sinh
           - Tại trường Đại học An ninh nhân dân, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân: Người dự tuyển thi 02 môn Triết học Mác-Lê nin và Lý luận Nhà nước và Pháp luật, thời gian làm bài 180 phút/môn thi.
           - Tại Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND: Người dự tuyển thi 02 môn Triết học Mác-Lê nin và Toán, thời gian làm bài 180 phút/môn thi.
              Người trúng tuyển được đào tạo đại học trong 02 năm và được hưởng các chế độ, chính sách quy định như đối với học sinh phổ thông học năm thứ 4. Kết thúc khóa học, được phong cấp bậc hàm và phân công công tác theo kế hoạch của Bộ Công an.
             Thông tin chi tiết xin liên hệ Công an các huyện, thị xã, thành phố hoặc Phòng Tổ chức cán bộ, Công an tỉnh Khánh Hòa, ĐT 069.4401.327 - 0983.835236.
  • Thông báo tuyển sinh theo Đề án mở rộng thí điểm tuyển sinh đào tạo trình độ đại học đối với người đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên tại Trường Đại học An ninh nhân dân năm 2021

      Để góp phần thu hút các thí sinh vào ngành Công an, giúp thí sinh cũng như Công an các đơn vị địa phương có đầy đủ thông tin phục vụ công tác sơ tuyển, Trường Đại học An ninh nhân dân đã xây dựng và ban hành thông báo tuyển sinh, đăng tại đây: Xem nội dung Thông báo tuyển sinh
  • Thông báo tuyển sinh công dân tốt nghiệp đại học ngành ngoài để đào tạo trình độ đại học tại Trường Đại học học CSND năm 2021

          1. Đối tượng, tiêu chuẩn
           Công dân có hộ khẩu thường trú tại Khánh Hòa, đã tốt nghiệp trình độ đại học hệ chính quy tập trung, từ loại khá trở lên, thuộc ngành đào tạo theo quy định của Trường; không quá 30 tuổi; đảm bảo tiêu chuẩn sức khỏe theo quy định của Bộ Công an, trong đó nam cao từ 162cm và nữ cao từ 158cm đến dưới 195cm, nam nặng từ 47 kg trở lên, nữ nặng từ 45kg trở lên, nam và nữ có chỉ số BMI từ 18.5 đến 30, có thể hình cân đối, không mắc bệnh kinh niên mãn tính, không sử dụng ma túy và các chất gây nghiện; đảm bảo tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Công an.
           2. Đăng ký sơ tuyển
           Người dự tuyển trực tiếp đến Công an các huyện, thị xã, thành phố nơi thường trú để đăng ký sơ tuyển. Thời hạn cuối tiếp nhận hồ sơ: 21/10/2021. Lệ phí đăng ký dự thi: 105.000đ/01 hồ sơ; Lệ phí khám sức khỏe: 100.000đ/người (không bao gồm phí làm xét nghiệm).
           3. Phương thức tuyển sinh
           Thực hiện kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển như sau: Xét tiêu chuẩn, điều kiện dự tuyển theo quy định của Bộ GD&ĐT và Bộ Công an; Tổ chức thi tuyển theo quy định của Bộ GD&ĐT và điểm ưu tiên theo quy định Bộ Công an để tính tổng điểm thi tuyển.
           Người trúng tuyển được đào tạo đại học tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân- Tp.Hồ Chí Minh. Thời gian học 02 năm và được hưởng các chế độ, chính sách quy định như đối với học sinh phổ thông học năm thứ 4. Kết thúc khóa học, được phong cấp bậc hàm và phân công công tác theo kế hoạch của Bộ Công an.
           Mọi chi tiết xin liên hệ Công an các huyện, thị xã, thành phố hoặc Phòng Tổ chức cán bộ, Công an tỉnh Khánh Hòa, ĐT 069.4401.327 - 0983.835236.
  • THÔNG BÁO Về việc tạm dừng tiếp công dân

               Ngày 08/7/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành Công điện số 03/CĐ-CTUBND về thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ tại các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh từ 0 giờ ngày 09/7/2021.
             Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh đang diễn biến rất phức tạp, đã liên tục xuất hiện và có xu hướng gia tăng ca nhiễm trong cộng đồng từ ngày 23/6/2021. Vì vậy, để đối phó với diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong tình hình mới, Công an tỉnh Khánh Hòa thông báo tạm dừng tiếp công dân tại Phòng Tiếp công dân Công an tỉnh từ ngày 15/7/2021 đến khi có thông báo mới.
             Các tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đề nghị gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Thanh tra Công an tỉnh Khánh Hòa, số 80 Trần Phú, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
             Thanh tra Công an tỉnh bố trí cán bộ thực hiện việc tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh gửi qua đường bưu điện theo đúng quy định của pháp luật và Bộ Công an.
             Giám đốc Công an tỉnh đề nghị Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương căn cứ vào tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn, lĩnh vực phụ trách để xem xét tạm dừng tiếp công dân cho phù hợp.
             Công an tỉnh Khánh Hòa trân trọng thông báo đến các tổ chức, cá nhân được biết./.

Liên kết Website