Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2026 của Quốc hội khóa XVI, tại Kỳ họp không thường lệ dự kiến tổ chức vào tháng 8 năm 2026, Bộ Công an được giao chủ trì xây dựng và trình Quốc hội cho ý kiến đối với 02 dự án luật và 01 dự thảo nghị quyết. Trong số đó, dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng, nổi bật là các vấn đề sau:
1. Hồ sơ dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) được xây dựng và ban hành trên các cơ sở chủ yếu sau đây:
Về cơ sở chính trị: Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự được đặt trên nền tảng các chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong các nghị quyết, kết luận và chỉ thị quan trọng. Trọng tâm là các định hướng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình.
Về cơ sở pháp lý: Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 cùng hệ thống các văn bản pháp luật về tư pháp hình sự như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và các luật chuyên ngành có liên quan, bao gồm Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Quản lý thuế, Luật Dữ liệu, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Trí tuệ nhân tạo và các văn bản pháp luật có liên quan khác.
Về cơ sở thực tiễn: Sau gần một thập kỷ triển khai thi hành, Bộ luật Hình sự hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập trong quá trình áp dụng. Một số quy định chưa theo kịp sự xuất hiện của các hành vi nguy hiểm mới đối với xã hội, chưa bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với pháp luật chuyên ngành, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Những yêu cầu đó đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện Bộ luật Hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
2. Mục đích và quan điểm ban hành
Về mục đích ban hành dự án Bộ luật: Việc xây dựng Bộ luật Hình sự (sửa đổi) nhằm tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Đồng thời, Bộ luật hướng đến việc khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh trong quá trình thi hành pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ chế độ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Bên cạnh đó, việc ban hành Bộ luật còn góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, xây dựng môi trường xã hội ổn định, trật tự, kỷ cương, an toàn và phát triển bền vững.
Về quan điểm xây dựng dự án Bộ luật: Việc xây dựng dự án Bộ luật được thực hiện dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, bảo đảm tuân thủ các quy định của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành. Quá trình nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung các quy định phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, kế thừa những quy định còn phù hợp của Bộ luật Hình sự hiện hành, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia và thông lệ quốc tế nhằm bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Ảnh minh họa: nguồn Internet
3. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) gồm 03 phần, 25 chương và 417 điều. So với Bộ luật Hình sự hiện hành, dự thảo đã bãi bỏ 06 điều, bổ sung 14 điều mới, sửa đổi 290 điều và giữ nguyên 113 điều. Những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu bao gồm:
(1) Sửa đổi, bổ sung các quy định về tội phạm
Thứ nhất, mở rộng phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của 13 tội danh, chủ yếu thuộc các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và trật tự, an toàn công cộng. Việc bổ sung này nhằm tạo cơ sở pháp lý để xử lý kịp thời các trường hợp tuy mới dừng ở giai đoạn chuẩn bị nhưng đã thể hiện rõ ý định phạm tội, có sự tổ chức, chuẩn bị phương tiện, công cụ và mục tiêu thực hiện cụ thể, qua đó nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm ngay từ giai đoạn sớm.
Thứ hai, mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 30 tội danh, tập trung trong các lĩnh vực như thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, đất đai, lao động và an toàn lao động. Việc sửa đổi này xuất phát từ thực tiễn nhiều hành vi phạm tội được thực hiện thông qua doanh nghiệp, công ty bình phong, pháp nhân trung gian hoặc mạng lưới nhiều pháp nhân nhằm che giấu dòng tiền, phân tán trách nhiệm pháp lý và hợp thức hóa các khoản lợi ích có nguồn gốc bất hợp pháp.
Thứ ba, bổ sung các quy định về nhóm tội phạm có tổ chức, đồng thời quy định thêm tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức. Nội dung này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc phát hiện, phòng ngừa và xử lý sớm loại tội phạm có tính chất tổ chức, đồng thời bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Thứ tư, bổ sung 09 tội danh mới trong các lĩnh vực như trật tự quản lý kinh tế, an ninh mạng, công nghệ cao, bảo vệ môi trường, an toàn công cộng và phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Bên cạnh đó, dự thảo cũng bổ sung một số hành vi khách quan mới vào cấu thành của các tội phạm hiện hành, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, kinh tế, thương mại và sở hữu trí tuệ. Những sửa đổi này nhằm khắc phục các khoảng trống của pháp luật hình sự, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới.
Thứ năm, rà soát để bãi bỏ, sáp nhập hoặc tách một số tội danh nhằm bảo đảm tính hợp lý và thống nhất của hệ thống pháp luật hình sự. Việc điều chỉnh này góp phần phân hóa trách nhiệm hình sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của từng nhóm hành vi phạm tội, qua đó phản ánh đầy đủ bản chất của từng loại tội phạm và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
(2) Sửa đổi, bổ sung các quy định về hình phạt
Thứ nhất, dự thảo tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với 06 tội danh, chỉ duy trì hình phạt này đối với 04 tội gồm: phản bội Tổ quốc, giết người, khủng bố và sản xuất trái phép chất ma túy. Việc điều chỉnh nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về từng bước hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật hình sự trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự, dẫn độ và tương trợ tư pháp.
Thứ hai, dự thảo bãi bỏ hình phạt cấm huy động vốn đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Quy định này được điều chỉnh do việc áp dụng hình phạt nêu trên có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, thanh toán các nghĩa vụ tài chính, chi trả tiền lương cho người lao động cũng như thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân.
Thứ ba, dự thảo điều chỉnh theo hướng tăng khoảng gấp hai lần mức phạt tiền và các ngưỡng định lượng bằng tiền được sử dụng để xác định tội danh và khung hình phạt tại nhiều tội phạm. Việc sửa đổi nhằm bảo đảm sự phù hợp với những biến động về giá cả, mức tiền lương, thu nhập, GDP bình quân đầu người và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ được mở rộng đối với 18 tội danh thuộc các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, an toàn công cộng, trật tự công cộng và hoạt động tư pháp. Nội dung này phù hợp với chủ trương giảm áp dụng hình phạt tù, tăng cường sử dụng các hình phạt không tước tự do. Bên cạnh đó, dự thảo quy định trường hợp người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ không thực hiện hoặc vi phạm các nghĩa vụ theo quy định thì Tòa án có thể quyết định chuyển phần thời gian chấp hành còn lại thành hình phạt tù nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành bản án và tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ năm, dự thảo bổ sung hai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự gồm: “người phạm tội bỏ trốn và có quyết định truy nã” và “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân”. Đồng thời, các quy định về tình tiết giảm nhẹ cũng được sửa đổi theo hướng ghi nhận việc thành khẩn khai báo của người phạm tội ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Ngoài ra, dự thảo còn mở rộng điều kiện áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện bằng việc bãi bỏ các yêu cầu về “phạm tội lần đầu” và “có nơi cư trú rõ ràng”.
Thứ sáu, dự thảo bổ sung một số biện pháp tư pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh với tội phạm trên không gian mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, như tịch thu và tiêu hủy dữ liệu số được tạo lập hoặc sử dụng trái pháp luật; buộc chấm dứt hoạt động của tên miền, địa chỉ IP; thu hồi khóa mật mã; đồng thời áp dụng biện pháp khôi phục lại tình trạng ban đầu trong các trường hợp cần thiết.
(3) Sửa đổi, bổ sung các quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, dự thảo mở rộng phạm vi áp dụng các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới, bao gồm việc triển khai có kiểm soát các công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, quy định này cũng được mở rộng đối với các hoạt động thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng vũ trang, tạo hành lang pháp lý phù hợp để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Thứ hai, dự thảo bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp có đủ điều kiện nhằm tạo điều kiện cho người vi phạm khắc phục hậu quả trong thời hạn nhất định. Trên cơ sở đó, dự thảo quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đã được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, hoàn thành việc khắc phục hậu quả và mang lại hiệu quả tích cực về kinh tế, xã hội, quốc phòng hoặc an ninh. Bên cạnh đó, dự thảo cũng bổ sung quy định cho phép xem xét miễn trách nhiệm hình sự ngay trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm khi có đầy đủ căn cứ theo luật định, qua đó giảm bớt các thủ tục tố tụng không cần thiết và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước.
(4) Sửa đổi các quy định nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp
Để nâng cao chất lượng và tính thống nhất của Bộ luật, dự thảo bổ sung một điều quy định về giải thích từ ngữ nhằm bảo đảm cách hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất. Đồng thời, dự thảo tiến hành rà soát, chỉnh sửa các thuật ngữ pháp lý, quy định dẫn chiếu để bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật chuyên ngành; bãi bỏ một số quy định có nội dung đã được điều chỉnh trong Luật Thi hành án hình sự; đồng thời sắp xếp, điều chỉnh lại bố cục của một số tội danh nhằm bảo đảm tính logic, thống nhất và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật lập pháp.
Có thể thấy, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự là yêu cầu khách quan và cấp bách trong bối cảnh hiện nay nhằm kịp thời thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) không chỉ khắc phục những hạn chế, bất cập nảy sinh sau gần 10 năm thi hành Bộ luật hiện hành mà còn tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Sau khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành, Bộ luật sẽ tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đồng thời xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.